
Lời cổ xưa đã
nói: “Kinh là lời Phật, Thiền là Tâm Phật”. Chúng ta
ai cũng có Tâm Phật nhưng vì biết bao vọng tưởng điên
đảo, đầy tham đắm, đầy phiền toái bám víu vây quanh,
che khuất chân tâm của chính mình.
Giả thử, nếu chẳng có vọng tưởng thì chúng ta ai cũng
thấy rõ chân tánh của mình, lúc nào cũng tự định, tự
tịnh và tự chiếu tỏa.
Có những người khởi tâm chấp tịnh thì đã tạo ra vọng
tưởng “Tịnh”, thực ra thì vọng tưởng không hề có xứ
sở. Người chấp vọng: “Tịnh” đã tự mình tạo lập “Tướng
Tịnh” và cũng tự mình trói buộc trong “Tướng Tịnh” ấy,
chứ thực ra “Tịnh” không có hình tướng.
Thiền Định đúng nghĩa của nó là:
- Bên ngoài: Đang nơi tướng mà lìa tướng gọi là Thiền.
Hay nói một cách khác, ngoài mà chấp tướng trong tâm
sẽ loạn, ngoài lìa tướng thì tâm chẳng loạn.
- Bên trong: Đang nơi niệm mà lìa niệm là Định. Nói
một cách khác, bên trong chẳng động, chẳng loạn là Định
hay Bản Tính đã tự định, tự tịnh rồi, chỉ vì ta thấy
cảnh, chấp cảnh thành ra loạn mà thôi. Ngược lại, nếu
chúng ta thấy mọi cảnh mà tâm chẳng loạn, thì đó mới
chính là “chân định”, chứ chẳng phải muôn điều chẳng
nghĩ, chẳng nói và muôn niệm chẳng khởi là “Định”. Nếu
ai rơi vào trường hợp này để rồi chấp Thiền là không
nói gì cả, thì quả là hơi phiền đấy! Ngược lại, cũng
có người chấp chặt mọi thứ để rồi trong tâm lúc nào
cũng loạn bởi muôn điều, muôn vật từ thô đến tế, cứ
chấp vào những thiên hình, vạn trạng hình tướng khác
nhau, rồi tự chôn vùi mình trong mọi cảnh, mọi hình
tướng giả dối, huyễn hoá ấy, để tự động lúc nào cũng
lọt vào nhị biên tương đối: có không, động tịnh, xấu
tốt, thấp cao, thật giả, v.v…
Nói một cách tổng quát về Thiền từ cạn tới sâu thì:
Chúng ta Thiền là để giúp chúng ta lắng vọng tâm, lắng
vọng niệm để đầu óc bớt căng thẳng, tâm bớt loạn, nhưng
không có nghĩa là để dứt tư-tưởng, diệt vọng niệm, diệt
cảm giác. Khi thiền sâu hơn với mục-đích dùng các phương
tiện: theo dõi hơi thở, tham Công-án, tham thoại đầu,
v.v...tự mình có thể tự chủ chính mình, không còn đắm
chìm trong phiền não, không cần phải bám víu vào những
ái dục tầm thường để vượt qua mọi chướng ngại, để tiến
đến Chân, Thiện, Mỹ, trí tuệ toàn diện.
Thật ra mà nói: Thiền không phải là một tôn giáo, một
pháp môn, một học thuyết để bàn cãi hay bất cứ cái gì
mà nguời ta gán tên cho nó, vì chính nó đã vượt ra ngoài
hết mọi phương tiện giả lập ấy. Chúng ta chỉ cần áp
dụng và thực hành đúng mức tại ngay đây, đời sống thường
ngày của chúng ta như: Ăn, ngủ, làm việc, v.v… mà rồi
tự động, không cần tìm đâu xa, nó sẽ thẩm thấu từ từ
đến toàn diện của chân lý Giác Ngộ, giải thoát ấy chính
nơi chúng ta.
Thanh Tịnh Liên THÍCH NỮ CHÂN THIỀN
Top
KHAI
THỊ TAM QUY
Tam Quy Y Tam Bảo là quy y Phật, Pháp, Tăng, ba báu
vật siêu thế, không có cái gì trên thế gian này có thể
so sánh được ngay cả bạc vàng, ngọc ngà, châu báu.
Quả đúng như vậy, chúng ta vì vô minh nên đã phải lạc
lõng, trôi lăn hằng hà, sa số kiếp với sự sống chết,
phiền não thống khổ để nước mắt mình tràn đầy như biển,
và để xương cốt của chính mình chất cao như núi, cứ
như thế chúng ta đi loanh quanh, luẩn quẩn trong vòng
bánh xe luân hồi dài vô cùng, vô tận và không làm sao
có thể thoát ra khỏi cái bánh xe hãi hùng ấy!
May thay, hạnh phúc thay, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni,
đấng cha lành toàn giác đã trao truyền Ba Viên Ngọc
Quý là những tấm bản đồ, là những kim chỉ nam dẫn dắt
những người con đang đi lạc đường, đang đắm chìm trong
sinh tử, đang khốn khổ tìm đường ra, mà càng tìm thì
lại càng lạc! Thì đây là tấm bản đồ chính xác, vô cùng
rốt ráo để chỉ đường, khai lối cho những đứa con hội
đủ duyên lành và có ý chí quật cường, khao khát giác
ngộ để giải thoát khổ đau, sinh tử cũng là để thoát
khỏi vòng xe luân hồi ấy.
Vậy nếu muốn đạt được mục đích, cứu cánh tuyệt vời
đó, thì chúng ta phải có tâm chân thành, có lòng can
đảm, có ý chí cương quyết, dũng mãnh để nhận lãnh và
thực hành tích cực với Ba Bảo Vật vi diệu nhiệm mầu
này là “Tam Bảo”.
Đã quy y Tam Bảo thì chúng ta không còn sợ đi lạc đường
lạc lối nữa, nhưng phải vững tâm, phải thông minh đừng
ngã lòng thối chí, không nghe bất cứ ai xúi bậy kẻo
lại đi lạc đường, chúng ta hãy nhất tâm, nhất chí, thẳng
đường mà đi, thì lo gì không tiến tới mục đích.
Vậy Quy Y Tam Bảo Là Gì?
Quy Y Phật: Là nương theo Phật, đấng Đại Giác, với
trí tuệ tột cùng, từ bi vô lượng, bình đẳng tuyệt đối,
thử hỏi còn có ai có thể so sánh được?
Quy Y Pháp: Giáo Pháp của Đức Phật: 12 Đại Tạng Kinh,
84 ngàn pháp môn, một giáo pháp siêu việt, sâu rộng
vô ngần mé, nếu chúng ta chịu can đảm, kiên trì học
hỏi và thực hành rốt ráo, thì nhờ giáo pháp này mà chúng
ta giác ngộ và sẽ thoát khỏi biển trầm luân sinh tử.
Vậy thử hỏi còn gì quý báu hơn được Bảo Pháp này?
Quy Y Tăng: Tăng đại diện cho Tam Bảo. Tăng là những
vị đang tu hành, học hỏi và thực hành ráo riết Giáo
Lý của Đức Phật, theo đúng bước chân của Đức Phật là
ly gia, cắt ái, buông bỏ mọi danh vọng, tiền tài, vật
chất để tiến tu, tinh tấn không ngừng nghỉ từng giây,
từng phút, mục đích không ngoài việc tự giác để giải
thoát chính mình, rồi tha giác để giải thoát chúng sinh
ra ngoài vòng phiền não sinh tử. Quy Y những vị tăng
thật thanh tịnh, thật chân chính vì các ngài có trí
tuệ, hiểu rốt ráo về Phật Pháp và có đủ khả năng để
dìu dắt chúng ta trên bước đường từ mê về giác.
Nói sâu rộng hơn và nói vắn tắt về Quy Y Tam Bảo còn
có nghĩa là nhờ tha lực Phật, Pháp, Tăng mà chúng ta
biết đường hướng nội, biết tìm Đạo vẫn sẵn có ở ngay
chúng ta, chứ không còn hướng ngoại tìm cầu, ỷ lại viễn
vông! Khi giác ngộ thì chính chúng ta là Tam Bảo, chúng
ta là Phật (vì ai cũng có Phật Tính, nhưng phải tu hành
sao cho nhận ra được Phật Tính ấy, dĩ nhiên Phật Tính
có đủ 12 Đại Tạng Kinh), đã có 12 Đại Tạng Kinh nơi
ta, thì chính chúng ta cũng là Pháp, và chính chúng
ta cũng là Tăng vì chúng ta đang dùng thân hiện hữu
này, dưới hình thức một vị tăng đang học hỏi, tu hành
để nhận ra Tự Tính của mình. Đức Phật dạy:
“Ta là Phật đã thành,
Chúng sinh là Phật sẽ thành”
là như vậy đó.
“Nghi Thức Cầu Siêu”
THIỀN VIỆN SÙNG NGHIÊM
Top
KHAI THỊ HƯƠNG LINH
Đạo hữu: ________________________ Pháp danh: ___________________
Xin đạo hữu hãy sáng suốt, đừng hoang mang để nhận
lãnh lời khai thị vô cùng quan trọng, liên quan đến
sự siêu thoát của đạo hữu.
Đạo hữu: _________________________ Pháp danh: ___________________
Đạo hữu có biết cõi đời là huyễn mộng, vô thường. Cuộc
đời là dâu bể, trăm năm khổ đau, đoạn trường không?
Đạo hữu có biết vòng luân hồi sinh tử không bao giờ
dứt! Nếu đạo hữu không tỉnh ngộ, mà cứ còn luyến tiếc
mãi về thân mạng, tiền tài, danh vọng, đạo hữu cứ vương
vấn vợ chồng, con cháu, họ hàng, bè bạn lôi thôi. Và
đạo hữu cứ ân hận, hối tiếc, cũng như dằn vặt mình về
những lỗi lầm xấu ác đã gây ra từ lúc sinh tiền thì
chỉ càng thêm vô minh và phiền não mà thôi! Đạo hữu
hãy chấp nhận cái chết, vì ai cũng sẽ phải chết, nhưng
chết đây không có nghĩa là mất mát gì mà chỉ là một
sự chuyển hóa thân tâm, từ thân tâm này sang một thân
tâm khác tốt hơn. Nếu đạo hữu bình thản, vững tâm, đừng
bối rối, lo sợ bất cứ cái gì, để mà nghe và hiểu rốt
ráo những lời khai thị sau đây thì vô cùng lợi lạc cho
sự siêu thoát của đạo hữu.
Bắt đầu từ giờ phút này đây: đạo hữu đừng nhận cái
xác thân tứ đại này là bản ngã của đạo hữu, và đừng
nhận cái vọng tâm tức là cái Tâm-Thức phân biệt, là
tâm của đạo hữu, vì như thế là mê lầm, chấp ngã, lấy
phân biệt làm tâm, lấy thể xác giả hợp làm thân, thì
phải theo với cái thân, cái tâm ấy mà xoay vần trong
sinh tử. Tại sao vậy?
Vì vọng tâm phân biệt, nên phải có cái cá nhân riêng,
có thân xác riêng, có nghiệp riêng, mà đã có cái riêng,
thì đương nhiên gây nhân nào thì sẽ gặt quả ấy. Sự việc
vô thường này đây, đã xảy ra không biết bao nhiêu đời
rồi! Nay đạo hữu hãy nương theo lời khai thị này mà
hướng về: “Nhất Tâm không phân biệt”, thì sẽ trừ được
cái cá nhân riêng, cái cá thể riêng. Khi không còn tâm
phân biệt, thì sẽ hết vọng tưởng, đã hết vọng tâm thì
ngộ được cái “Nhất Tâm” hay gọi là “Bản Lai Tự Tính”.
Trong Bản Lai Tự Tính này, thì tất cả cái riêng, cái
khác ấy nó đều không sai khác là vì xưa nay chỉ có một
tính “Chân Như”, chưa hề có chúng sinh.
Bây giờ đây, xin đạo hữu nương theo Bát Nhã Tâm Kinh
cùng với chúng tôi đang hộ trì, đạo hữu sẽ nhận ra Chân
Tâm Bát Nhã của đạo hữu để được siêu thoát.
“Nghi Thức Cầu Siêu”
THIỀN VIỆN SÙNG NGHIÊM
Top
Ý NGHĨA XUỐNG TÓC
Thường thì ai cũng nghĩ rằng xuống tóc đi tu, thề nguyện
theo chân Đức Phật để phụng sự Phật Pháp, phụng sự chúng
sinh suốt đời mình. Ý nghĩa đó cũng đã là tuyệt vời,
cao quý lắm rồi. Nhưng nếu suy tư sâu xa hơn, thì xuống
tóc là thề xả bỏ Thân mà xả Thân cũng là xả Tâm vì Thân
Tâm không rời nhau được. Thì Thân Tâm là một nên phải
nói rằng:
“Xuống tóc là thề xả bỏ thân tâm”
Thường thì cái Tâm luôn luôn làm chủ cái Thân, vì Tâm
muốn xả nên Thân mới đồng ý chịu làm.
Nghĩa xả bỏ ở đây không có nghĩa là đem thân Tâm này
quăng bỏ đi, mà mục đích chỉ là buông bỏ vọng tâm giả
này, là buông bỏ Thân Tâm vô minh phiền não để trở về
với cái chân tâm trường tồn, tự tính vốn sẵn có của
chúng ta là mục đích tối thượng, mục đích giải thoát
sinh tử cho mình và cho toàn thể chúng sinh.
Muốn hiểu được chân lý siêu việt và thực hành mục đích
tuyệt vời ấy, thì chúng ta cũng phải có Tâm chân thành,
can đảm, không quản gian nan để tiến tới mục đích này.
Bởi thế cho nên chúng ta mới phải tự mình phát nguyện,
tự mình thề bồi một cách dũng mãnh, chứng minh bằng
một hành động xuống tóc, thề xả bỏ Thân Tâm này để xuất
gia tu hành và sống một cuộc sống của một tu sĩ khác
đời.
Vậy thế nào là buông bỏ Tâm? Buông xả Tâm là buông
vọng Tâm vô minh, buông cái Tâm Thức luôn phân biệt
nhị biên: Có không, thật giả, xấu tốt, sang hèn, sinh
tử. Cái tâm phân biệt này nó làm chúng ta chấp có thật
ta, có thật người, có thật ngoại cảnh, sự chấp trước
có thật này vô cùng kiên cố. Rồi từ cái chấp thật kiên
cố này, nó nẩy ra những ý niệm tư lợi riêng tư cho bản
thân, cho tự ngã và cứ như thế mà thêm mọi ý niệm, vọng
tưởng trùng trùng, điệp điệp: Nào yêu ghét, nào tị hiềm,
nào tranh đua, ghen ghét, tham lam, sân hận, ích kỷ…v…v…Mọi
vọng tưởng này đều do nguyên nhân của Tâm vô minh mà
ra cả. Nhưng Tâm vô minh, niệm vọng tưởng này đều không
có xứ sở, nó không thật có mà chỉ như mộng, như huyễn
hóa, như đám mây mù mà thôi; nên chúng ta tạm gọi nó
là: “Thân Tâm huyễn hóa”; đã hiểu nó là Thân Tâm huyễn
hóa, không thật thì chúng ta có buông bỏ nó đi thì cũng
có gì đáng luyến tiếc và sợ hãi? Tuy nhiên xin nhắc
lại như trên, nghĩa buông bỏ ở đây, không phải đem vứt
bỏ đi cái thân tâm này, mà mục đích chỉ là làm sao cho
chúng ta hiểu rốt ráo về lý sự của Thân Tâm mình, để
không chấp thật vào nó mà thôi, chứ thực ra chúng ta
vẫn phải dùng nó để mà tu hành, vì vẫn ngay Thân Tâm
này mà chúng ta sẽ nhận ra Pháp Thân, nhận ra Tự Tính
nghĩa là Giác Ngộ.
Bây giờ nói đến xả Thân:
Thế nào là buông xả Thân?
Chúng ta cũng nên hiểu rằng mọi sự, mọi vật, mọi hình
tướng, mọi Pháp và ngay thân ta, tất cả đều là thể Không,
duyên hợp giả có.
- Bằng Nhục Nhãn, chúng ta nhìn: Phần bên ngoài, thân
chúng ta có hình tướng, nhưng thực ra chỉ là duyên giả
hợp bởi tứ đại: Đất, Nước, Gió, Lửa.
- Bằng Tuệ Nhãn, chúng ta nhìn phần trong: Tâm chúng
ta không có hình tướng, thì cũng vậy, thể của nó vốn
là không, duyên hợp giả có nhưng Không ở đây có nghĩa
là tính Không (chỉ vì một niệm vô minh khởi lên là “Cái
Nhân Không” tạo nên cái vọng tưởng phân biệt “là cái
duyên giả có hợp lại”, đã gọi là vọng thì chỉ như huyễn
mộng thôi).
Xin nhấn mạnh, khi một niệm vô minh khởi lên, rồi
theo niệm ấy mà trước cảnh sinh Tâm, chấp thật có ngã,
thật có Pháp, và cũng tự nó tạo Tâm Thức phân biệt,
vô tình nó đã đem “Trí” chuyển thành “Thức”.
Để tóm tắt và nhắc lại: Thân Tâm chúng ta huyễn vọng
từ ngoài vào trong nó duyên giả hợp bởi thất đại: Đất,
Nước, Gió, Lửa, Không, Kiến và Thức, cho nên chúng ta
tạm gọi nó là “Thân Tâm Huyễn Hóa” không thật có, nhưng
chúng ta vẫn phải dùng thân huyễn hóa, tức thân người
này, vì chỉ có thân người mới có đầy đủ sáu căn: mắt,
mũi, lưỡi, thân, ý; mà có đủ sáu căn thì tu hành mới
có thể nhận ra Tự Tính, tức là Giác Ngộ. Khi Giác Ngộ
thì cái thân huyễn hóa này tự động nó chuyển “Thất Đại”
thành “Thất Bảo”, tức là chuyển toàn “Thức” thành toàn
“Trí Tuệ”. Giờ phút này gọi là trở về nguồn. Thực ra
mà nói thì từ vô thủy thân tâm này vốn là toàn “Trí
Tuệ”, chỉ vì nhất niệm vô minh khởi dậy nên tự nó chuyển
toàn “Trí” thành toàn “Thức” mà thôi. Khi tỉnh ngộ,
vô minh chịu buông bỏ, thì là Trí Tuệ hiển bày chứ có
gì mà gọi là đi đâu và về đâu?
Để kết luận, khi đã hiểu rốt ráo về giáo lý của Đức
Phật, chỉ rõ nguyên nhân vô minh tạo nên phiền não sinh
tử, và chúng ta cũng đã hiểu rõ thân tâm của chúng ta
là giả hợp, không thật thì chúng ta còn sợ gì mà không
dám buông bỏ nó, để trở về với Vầng Trăng Trí Tuệ, Phật
Tính sẵn có, luôn thanh tịnh, sáng ngời và trường tồn
của chúng ta. Đó là mục đích của sự tu hành đã thành
tựu, lúc này hành giả đã tự động trả được hiếu, trả
được ân từ vô thủy đến nay, và mọi tội lỗi từ vô thủy
cũng đều tự động tiêu tan. Thật là trọn vẹn ơn nghĩa
với muôn loài, muôn vật và toàn vũ trụ. Đây là lúc lý
sự tròn nhất, Đạo Đời Nhất Như và cũng là trọn vẹn ý
nghĩa của mục đích xuống tóc.
“Lễ Xuống Tóc”
Thiền Viện Sùng Nghiêm
Top
Mừng Phật Đản Sinh
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI
PHẬT
Với Phật Pháp thì không có sinh, không có diệt, không
có cái bắt đầu nên không có cái cuối cùng, bởi vậy không
có thời gian cũng không có không gian, vì không có không
gian nên không có chỗ để chỉ, vì không có thời gian
nên không hề có bị gián đoạn. Nếu còn có chỗ chỉ định
được thì còn có giới hạn và gián đoạn là không hợp giáo
lý Phật Pháp.
Để đúng với tinh thần Đạo Pháp, chúng ta chỉ có thể
tạm gọi là: Mừng Phật thị hiện Đản Sinh.
Tuy hiểu như vậy, nhưng chúng ta vẫn phải kính trọng
từ ngữ thế gian và truyền thống thế gian, nên hôm nay
chúng ta qui tụ nơi đây để làm Đại Lễ Mừng Phật Đản
Sinh, mục đích để kỷ niệm, để tán thán, để ghi ơn công
đức của Đấng Từ Phụ Đại Giác Thích Ca Mâu Ni đã thị
hiện Đản Sinh, đã thiên biến vạn hóa, đã để lại biết
bao đường lối, không ngoài mục đích là thức tỉnh toàn
thể chúng sinh chúng ta ra khỏi cơn trường mộng vô minh.
Trong vô minh, chúng ta đắm chìm, trôi lăn, phiền não,
sinh tử mãi mãi mà vẫn không hề hay biết gì cả!
Quả đúng như vậy, chúng ta đều đang chơi cái trò vô
minh, chúng ta chấp mọi thứ trên đời này cái gì cũng
thật: Thân ta là thật, gia đình của ta là thật, đất
nước của ta là thật, v..v…
Vì chấp mọi sự vật là thật nên mới tư túi đủ thứ nào
là danh vọng, nào là tiền tài, nào ái dục, càng nhiều
càng tốt cho bản thân, cho gia đình, cứ như thế càng
ngày càng tham lam, càng ích kỷ để rồi có sự hơn thua,
tranh đấu, tất cả chỉ vì quyền lợi riêng tư, cứ như
thế, chúng ta vô tình không biết là mình đang bị khốn
khổ bởi vô minh phiền não này, trói buộc càng ngày càng
trầm trọng!
Phúc đức thay cho những ai sớm nhận ra sự việc ấy và
đã chán chường cái trò chơi vô minh, phiền não này,
nên tự mình đi kiếm đường lối để giải thoát, mà muốn
giải thoát thì chỉ có một cách duy nhất là dùng một
trong những pháp môn của Đức Phật để mà thực hành tu
tập.
Tu làm sao để nhận ra cái bản lai sẵn có của chúng
ta, là cái cùng khắp không gian, thời gian đã nói ra
lúc đầu. Cái ấy nó không bị giới hạn, không có gián
đoạn bởi thời gian. Nó đã không có giới hạn, không có
gián đoạn, nhưng nó cũng không ra ngoài pháp thế gian,
vì không có chúng sinh thì không có phật pháp. Nên nó
phải là cùng khắp, mà nó đã là cùng khắp thì quả đúng
là phật pháp không rời pháp thế gian. Vì thế nên chúng
ta tu hành, thực tập làm sao, làm cách nào, miễn là
chúng ta nhận ra được Tự Tánh của mình thì cái giây
phút nhận ra Tự Tánh mình ấy mới đúng ý nghĩa: “Mừng
Phật Đản Sinh”. Giây phút này mới đúng là thể hiện mừng
Phật Đản Sinh của chính chúng ta, và cũng chính là lúc
chúng ta đã báo hiếu được cha mẹ đời này và cả cha mẹ
bao đời trước, cũng chính là lúc chúng ta đã đền ơn
chư Phật, Tổ, các thiện tri thức, các thầy ta, và cũng
chính là lúc chúng ta đã trả ơn muôn loài, muôn vật.
“Nghi Thức Khánh Đản”
Thiền Viện Sùng Nghiêm
Top
LỄ MỘC DỤC
(Lễ Tắm Phật)
Tắm Phật đây không có nghĩa thật là tắm Phật, vì Phật
đây là Phật tính, mà đã là Phật tính thì tự nó đã thanh
tịnh, trong sạch tuyệt đối rồi, chúng ta là những kẻ
phàm phu, đầy ô nhiễm, làm sao lại có thể tắm cho Phật
được?
Nhưng để noi gương Đức Phật, ngài đã tu hành vô cùng
gian lao, khổ cực, ngài cũng hướng ngoại tìm cầu, tầm
sư học Đạo mãi mà không đạt được kết quả gì! Cho đến
một ngày ấy, ngài phải tọa Thiền và tự hướng vào nội
tâm mình, mới Giác ngộ, là nhận ra Phật tính sẵn có
nơi ngài và Phật tính ấy cũng sẵn có ở muôn loài chúng
sinh chúng ta.
Chúng ta cũng có Phật tính, chỉ vì vô minh tham, sân,
si che lấp mà thôi. Nay chúng ta chịu tu hành, chịu
sửa đổi mọi thói hư, tật xấu, xả buông hết mọi tập khí:
ích kỷ, ngạo mạn, ghét ghen, độc ác, v..v… Thì đó là
cách tu đứng đắn nhất, đúng nghĩa nhất, và đó mới chính
là chúng ta đang tự tắm, đang tự thanh tịnh thân tâm
chúng ta.
Vậy cho thật đúng với ý nghĩa tắm Phật, chúng ta hãy
cố gắng thể hiện, và thanh tịnh chính thân tâm mình.
Còn Lễ Mộc Dục đây chỉ là một lễ noi gương, tán thán,
và tri ân Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni mà thôi.
“Nghi Thức Khánh Đản”
Thiền Viện Sùng Nghiêm
Top
ĐÓA HOA CÀI ÁO
Chúng ta đang ở trong thế giới tương đối, thì đương nhiên
chúng ta phải bị ảnh hưởng với đời sống đầy khái niệm tương đối
nầy, trong suốt cuộc đời.
Chúng ta đang sống và đang chấp từng khái niệm với những
cảnh giới hiện hữu, tương đối nầy là thật có, nên lúc nào
chúng ta cũng đắm chìm trong ý niệm phân biệt hình tướng,
danh từ, lời nói, nhị biên tương đối nầy; rồi trong suốt
cuộc đời lúc nào cũng toàn là tốt xấu, có không, cao thấp,
sang hèn, yêu ghét, sinh tử v.v...
Vì chấp thật tất cả mọi vật, mọi sự, mọi hình tướng,
mọi danh từ, lời nói, mọi khái niệm đều là tương đối,
nên mới có sinh, có tử, rồi ngay đến những bông hoa
cũng bị liên hệ mang nghĩa nầy, nghĩa kia v.v...
Nhưng thật sự trong Đạo Phật thâm sâu, Đệ Nhất nghĩa
thì sự mất còn, chết chóc không ảnh hưởng gì đến Phật Pháp,
Chân Tâm, Phật Tính, không tùy thuộc vào sinh tử,
nó siêu việt Nhị Biên Tương Đối, nó cũng siêu việt
vũ trụ, vạn vật, nhưng nó cũng không tách rời mọi
hình tướng, muôn hình vạn trạng của thế gian, vũ trụ nầy.
Chân tâm Phật Tính đây, ngay nơi chúng ta, ngay ở muôn loài,
muôn vật. Nó không phải tái tạo khi chúng ta sinh ra và
nó cũng không biến mất khi chúng ta chết, nó vẫn bất biến, thường hằng...
Do lẽ đó mà Ông Bà, Cha Mẹ, Cửu Huyền, Thất Tổ và ngay cả
những đóa hoa, cũng đều cùng trọn vẹn cả lý lẫn sự nầy.
Top
|